Friday, October 30, 2020

Hấp thu và bén rễ xu hướng từ nước ngoài. J-POP và xã hội Nhật Bản nhìn từ kinh doanh âm nhạc.

Phó giáo sư Wajima Yusuke (đại học Osaka)

Todai Shimbun (The University of Tokyo Newspaper) - 15.08.2020
Khi nói về xu hướng của một bài hát, ca sĩ, hay thể loại nào đó, thì không thể không nhắc đến quan điểm về chiến lược bán hàng của các công ty liên quan đến âm nhạc, như công ty thu âm và truyền thông, v.v… Chính vì thế, lần này chúng tôi đã phỏng vấn Phó giáo sư Wajima Yusuke (đại học Osaka). Chúng tôi đã được nghe câu chuyện về mối quan hệ giữa con người và các bài hát thịnh hành từ thập niên 90 trở về sau, với trọng tâm là quan điểm về kinh doanh âm nhạc.

(PV - Sugita Hideki)

Chiến lược bán hàng và âm thanh


一一Nguồn gốc của J-POP xuất hiện từ những năm 90, và đặc trưng của âm nhạc chứa đựng trong đó là gì?

“J-POP” vốn là từ ngữ được tạo ra vào khoảng năm 1989. Nó bắt nguồn từ nhạc Nhật Bản được phát trên chương trình của kênh radio “J-WAVE”, một đài chuyên về nhạc phương Tây lúc mới mở, như là “dù phát cùng với nhạc Tây cũng không kém cạnh”. Nó nhắm đến các bản nhạc hợp thời tiếp thu rock và pop của Anh Mỹ, như của Southern All Stars, Yamashita Tatsuro, và Ohtaki Eiichi, v.v…

Đồng thời, các nhà phân phối đĩa nhập có đầu tư nước ngoài như Tower Records trở nên nổi tiếng, và một phần nhạc Nhật Bản được bán song song với nhạc phương Tây. Dù sau đó nó được gọi là “kiểu Shibuya”, nhưng vào thời điểm này việc giao dịch nhắm đến một số tầng lớp nòng cốt.

一一Điều gì đã khiến cho “J-POP” lan rộng cả nước?

Komuro Tetsuya, người đã sản xuất cho TRF, Amuro Namie, và BEING, công ty sản xuất đã trực tiếp tạo nên B’z, ZARD có công lao rất lớn. Âm nhạc của Komuro Tetsuya chú tâm đến tính sôi động của karaoke, đồng thời lần lượt áp dụng các xu hướng của nhạc dance nước ngoài. BEING thì kết hợp với CM, anime, và drama nổi tiếng, nhằm tạo điều kiện để mọi người chắc chắn nghe được ca khúc. Có thể nói âm nhạc của họ đã lan truyền rộng rãi cùng với từ “J-POP”.

Vào cuối thập niên 90 khi doanh số CD chuyển từ tăng sang giảm, thì Utada Hikaru xuất hiện, và sự chú ý đổ dồn vào các trào lưu mới, bao gồm cả Shiina Ringo và aiko, v.v…

一一Có điều gì thay đổi trong thập niên 00 không?

Morning Musume xuất hiện vào cuối những năm 1990, và các nhóm idol mới như AKB48 v.v… đã trở thành xu hướng chủ đạo của J-POP. Sự thay đổi chiến lược kinh doanh theo đặc trưng của cả hai, cũng ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng của mọi người. Thay vì hướng đến sự chấp nhận của công chúng, thì chiến lược khoanh vùng lớp khách hàng cụ thể bắt đầu thịnh hành, như việc kèm theo vé bắt tay vào CD.

一一Các ca khúc gần đây nhất thì sao?

Nói về mặt âm nhạc và ca từ của những Aimyon hay Yonezu Kenshi v.v.., tôi có ấn tượng đây là một thế hệ đã được nuôi dưỡng trong “J-POP” kể từ khi được sinh ra, chứ không phải dựa theo nhạc phương Tây. Ngoài ra, tôi cảm thấy rằng đây là cách làm có điều kiện YouTube và streaming. Những video ngắn và có động tác dễ hiểu khiến người xem bắt chước và tạo sản phẩm tiếp theo như PPAP thì tất nhiên không phải nói, việc tạo những âm thanh chính thống và mộc mạc của Aimyon có lẽ cũng phù hợp với streaming.

Tuesday, October 27, 2020

Nhóm 8 thành viên “giấu mặt” bí ẩn trên YouTube, danh tính Johnny’s dựa trên các ký tự đầu tiên

Shuukan josei PRIME (16/10/2020)

Ngày 12/10, ba kênh của boygroup bí ẩn bất ngờ được mở trên YouTube. Tên lần lượt là “Honey Bee”, “Sindibaad” và “John Darling”, ba nhóm cũng đăng các MV short ver. vào thời điểm mở kênh.

- Honey Bee: Ca khúc “Ookami Seinen” do Avu-chan của ban nhạc rock nổi tiếng “Ziyoou-vachi” sáng tác, và biên đạo do “Tokyo Gegegay” thực hiện.

- Sindibaad: Ca khúc “Senya Ichiya” do Ayase của unit “YOASOBI” sáng tác lời và nhạc, MV là anime theo motif Đêm Ả rập.

- John Darling: Ca khúc “Naimo No Nedari” do Hashiguchi Youhei của ban nhạc rock “Wacci” thực hiện, MV là một câu chuyện phù hợp với ca khúc có nữ diễn viên Nao diễn chính.

Một phóng viên tạp chí truyền hình cho biết: Ba nhóm xuất hiện cùng lúc không báo trước, nhưng từ số lượng 8 thành viên, trong đó có nhiều thành viên dáng người nhỏ nhắn, giọng hát đặc trưng, và nếu ghép chữ đầu của ba tên nhóm lại sẽ là “HSJ”, nên đã lập tức trở thành chủ đề nóng rằng danh tính thực sự có phải Hey! Say! JUMP không. Không chỉ ẩn danh, điều đáng chú ý là người sáng tác cho mỗi nhóm không phải là những cái tên được ưa chuộng ai ai cũng biết, mà là những người sáng tạo đầy cá tính hiện đang được công chúng quan tâm. Điều này khiến fan các nhóm khác rất bất ngờ, và cụm từ “ghen tị với JUMP” cũng lọt vào trend.

Hiện vẫn chưa có động thái gì ngoài việc phát hành MV trên YouTube và cũng không có thông báo nào từ phía văn phòng Johnny’s, nên các fan suy đoán liệu đây có phải là dự án mới của Hey! Say! JUMP không.

Friday, October 23, 2020

YOASOBI - Thăng hoa thế giới quan tiểu thuyết vào âm nhạc


yamaha ongakukiji | Yomiuri Shimbun (23/9/2020)

Pop Style vol.715

Unit âm nhạc 2 thành viên, YOASOBI, đang càn quét các bảng xếp hạng âm nhạc từ mùa xuân năm nay với ý tưởng “biến tiểu thuyết thành âm nhạc”. Bài hát đầu tiên “Yoru ni Kakeru”, video đăng trên YouTube đã đạt hơn 85 triệu lượt xem, và tiếp tục duy trì trong top 5 trên bảng xếp hạng Billboard trong khoảng 4 tháng. Dự án thăng hoa thế giới quan và câu chuyện trong tiểu thuyết vào âm nhạc của J-POP này đã được sinh ra và bùng nổ sức hút đối với công chúng như thế nào. Sau đây là bức tranh toàn cảnh của âm nhạc đại diện cho năm 2020!!

Wednesday, October 21, 2020

“Huyền thoại một Diva: Dấu tích và Phép màu của Nakamori Akina” (Kỳ 42)

Ca khúc mới đổi tên thành “1/2 no Shinwa”;
“Đọc ý” của NHK

zakzak (06.10.2020)

Từ cuối năm 1982 cho tới đầu năm 1983, “Second Love” của tân binh Nakamori Akina làm mưa làm gió trong ngành âm nhạc.

Akina debut với “Slow Motion” vào ngày 1/5/1982, đứng hàng thứ 6,7 trong số những người mới và không được chú ý. Tuy nhiên, tình thế đã đảo ngược khi single thứ 2 “Shojo A” lần đầu lọt vào Top Ten, tiếp theo “Second Love” cũng lần đầu tỏa sáng ở vị trí thứ 1 trên bảng xếp hạng.

Dù cũng có ý kiến rằng, “Nghĩ lại thì, việc không được trong ngành đón nhận có khi lại là chuyện tốt. Ở khía cạnh nào đó cô ấy đã không bị nhuộm màu… Dù là thần tượng hay nghệ sĩ nếu trong ngành công nhận thì công chúng không đón nhận. Akina là trường hợp điển hình” (cựu phụ trách bán hàng của một cửa hàng băng đĩa lớn), nhưng có thể đó là một thành công mang tính chiến lược.

Single thứ 4 được quyết định khi thời điểm cuối năm đến gần. Ông Urino Masao của “Shojo A” phụ trách phần lời, và Ohsawa Yoshiyuki, trước khi hoạt động solo là một nhạc sĩ mới vào nghề, được chọn sáng tác phần nhạc. Thời điểm đó, Ohsawa đã ra mắt với ban nhạc “Cloudy Sky”, nhưng tan rã chỉ sau 8 tháng do sự khác biệt về hướng đi. Ông hoạt động sáng tác nhạc được một thời gian, ca khúc “Omae ni Check-in” cung cấp cho Sawada Kenji là một bản hit thành công bất ngờ.

“Vì Akina có concept, nên chúng tôi tích cực chọn những nhạc sĩ có tài năng nhưng gần như không được biết đến. Nói thế này có lẽ không phải lắm, nhưng tôi nghĩ chúng tôi đã phần nào nắm được quyền chủ động…”

Ông Tomioka Nobuo, phụ trách quảng bá cho Akina tại bộ phận quảng bá âm nhạc Nhật Bản của Warner Pioneer (hiện là Warner Music Japan), nhớ lại.

Tác phẩm được đưa ra là “Furyou 1/2” (1/2 bất hảo). Vì tiêu đề có ấn tượng mạnh, nên chúng tôi đưa vào thu âm với tâm thế “bài này sẽ hiệu quả!”. Ngày phát hành cũng được lên kế hoạch vào 23/2, như là đợt phát hành đầu tiên cho năm 1983.

Tuy nhiên, có một việc ngay sau năm mới. Một rắc rối bất ngờ xảy ra. Đã có bất đồng ý kiến về tiêu đề. Thật ngạc nhiên là có liên hệ từ NHK, rằng “chúng tôi đợi đấy!”. Ông Tomioka cười khổ.

“Khác với hồi debut, độ chú ý của Akina đã tăng đột biến. Đài nào cũng hỏi chúng tôi “Bài hát tiếp theo thế nào?”. Thế nên, trước tiên chúng tôi đã mang tới cho NHK. Người phụ trách chương trình âm nhạc đã nói rằng “Bài hát hay lắm, nhưng tựa đề này hơi khó với tính chất NHK”. Nếu như họ không thể đưa Akina lên với tiêu đề này…”

NHK vào thời điểm đó rất khắc khe với tựa đề và lời ca khúc, việc thay đổi lời bài hát trong “Playback Part 2” của Yamaguchi Momoe, từ “Makka na Porsche” (chiếc Porsche đỏ thẫm) thành “Makka na Kuruma” (chiếc xe hơi đỏ thẫm), đã trở thành chủ đề bàn tán lớn.

Các nhân viên phụ trách sản xuất, quảng bá, bán hàng tại Warner đã có một cuộc họp thâu đêm về “ý kiến” của NHK.

“Cuối cùng, chúng tôi quyết định sẽ thay đổi tựa đề. Người phụ trách sản xuất đã thảo luận với anh Urino, và đổi thành “1/2 no Shinwa” (½ thần thoại). Nói ngắn gọn là chúng tôi đã đoán ý của NHK mà hành động. Bìa đĩa cũng làm xong hết rồi. Thật lãng phí vì đó là cái bìa đĩa tuyệt đẹp đối với tôi. Hơn nữa, vì thay đổi tiêu đề mà thành ra một bìa đĩa sơ sài, làm tôi đến giờ vẫn thấy tiếc”

Urino cũng xác nhận về việc thay đổi này trong chương trình “Naming Variety - Nihonjin no Onamae!” phát sóng trên NHK vào ngày 24/9, “Chẳng còn tính ấn tượng gì cả. Thời đó, tôi chưa từng được hỏi (về “1/2 no Shinwa”) trong các cuộc phỏng vấn. Tóm lại là tựa đề thật tệ”.

Hơn nữa ông còn thêm, “Chuyện đã thành ra là... (nếu phát hành mà không đổi tựa đề) Tôi nghĩ sẽ gay go lắm. Ơ kìa, được rồi đấy. Thử hát một chút xem nào”.

Có lẽ ông ấy đã khịa NHK ngay trên chương trình của NHK.

(Phóng viên giải trí: Watanabe Yuuji)

■Bình luận Yahoo JP

(+1109 -59)
“Furyou 1/2” thì không nha...
Tôi nghĩ thật hay vì đã đổi tựa đề đấy.
Cũng giống như “15 no Yoru” của Ozaki Yutaka ban đầu tựa là “Mumenkyo”, hãy để mọi người hình dung ra hơn là nói thẳng.

(+832 -72)
“1/2 no Shinwa” là lần thứ 2 theo hướng nổi loạn, cảm giác bản thân cô ấy cũng quen với phong cách này rồi, và thực tế nó đã trở thành hit. Đến lúc này thì, tựa đề không phải “Furyou 1/2” có khi lại tốt nhỉ.

(+631 -38)
Nhìn vào ca từ của “1/2 no Shinwa”, tuy bắt chước người lớn và bị xung quanh cho là ngỗ ngược, nhưng thực chất bản thân là người trong sáng. Một bài hát muốn chúng ta hiểu được điều đó.
Cả hai nửa “thiếu nữ” và “người lớn” cùng tồn tại trong trái tim, và rung động trước tình yêu. Liệu từ “Furyou” có diễn tả được cái thời kỳ phức tạp, không phải người lớn cũng chẳng phải trẻ con đó không?
Quả thật, tôi thấy thật tốt vì tựa đề là “1/2 no Shinwa” đó.

(+418 -16)
Không hiểu tại sao “Furyou 1/2” lại không được nhỉ.
Nhưng cái tựa đề “Furyou 1/2” chắc không nổi được đâu.
Nhạt nhẽo.
Tôi thấy “1/2 no Shinwa” được hơn.
Rốt cuộc, tôi cho là Warner đã được NHK cứu rồi đấy.

(+327 -21)
Thật may mà không phải Furyou 1/2.
Vừa “1/2 no Shinwa” vừa có phong cách nổi loạn, vào thời đó mà nói là lựa chọn tuyệt vời đấy.
Với, không quan trọng lắm nhưng mà, chuyện thay đổi tựa đề sau khi có liên lạc “đã đợi” của NHK, vì thế mà dùng từ “đoán ý” chẳng phải sai sai sao?
Tôi nghĩ nếu đoán trước được chuyện NHK liên hệ thì mới là “đoán ý”.
Mà thật sự không quan trọng lắm đâu.

(+210 -27)
Trong nhóm năm 82 thì Akina áp đảo cả về doanh số và hoạt động. Điểm yếu duy nhất chỉ là sức mạnh của văn phòng (Ken-On thời đó vẫn còn non trẻ).

(+195 -14)
Cả Slow Motion và Second Love đều là của Kisugi Takao á.
Giờ tôi vẫn nghĩ là nên được đánh giá cao hơn một chút.

(+164 -17)
Tôi cứ nghe hoài nghe mãi các ca khúc của Akina.
Ca khúc của Akina, giống như một bộ phim tuyệt tác vậy, khi tuổi đời, môi trường, quan hệ con người của chúng ta thay đổi, thì ấn tượng về chúng cũng thay đổi. Hồi trẻ tôi thích Kita-wing nhưng bây giờ lại thích BLONDE á.

“Huyền thoại một Diva: Dấu tích và Phép màu của Nakamori Akina” (Kỳ 41)

Chọn lọc kỹ lưỡng cách thể hiện trang phục, kiểu tóc…
Tự mình đề xuất “Shojo A buộc tóc đuôi ngựa”

zakzak (29.09.2020)

Việc chọn ca khúc “Second Love” tiếp sau “Shojo A” cũng là chiến lược hình ảnh đại thành công của Nakamori Akina.

Ông Tomioka Nobuo (hiện là giám đốc đại diện momo&grapes company), người phụ trách tuyên truyền tại bộ phận quảng bá âm nhạc Nhật Bản của Warner Pioneer (nay là Warner Music Japan), nhớ lại.

“Khả năng ca hát của Akina có thể sánh ngang với Iwasaki Hiromi. Cô ấy có thể hát live ngay cả khi đứng trên thùng các tông đựng quýt ở phố mua sắm. Hơn nữa cô ấy còn có năng lực biểu cảm. Chỉ cần chọn đúng bài hát có concept phù hợp, thì tôi tin chắc sẽ bán chạy.”

Akina có một tính khí mạnh mẽ, nếu có điều gì không đồng tình sẽ hiện rõ ra mặt. Những điều đó thường bị đánh giá là “bướng bỉnh”, “kiêu căng”.

“Quả thật, người quản lý cũng đã thay đổi vài lần. Mẹ của cô ấy cũng thường lui tới công ty chúng tôi. Có thể bà đến để nêu ý kiến và những điều không hài lòng về nơi làm việc, nhưng bà ấy có vẻ hợp tính với anh Terabayashi (tổng phụ trách sản xuất quảng bá) đến lạ. Vì Akina nghe lời mẹ, nên cũng tin tưởng anh Terabayashi. Bản thân tôi cũng nói những gì cần nói với Akina, nhưng chưa bao giờ xảy ra vấn đề gì nghiêm trọng cả.”

Cô ấy từ nhỏ đã chẳng phải đứa trẻ khỏe mạnh gì.

“Người mẹ cũng lo lắng về tình trạng thể chất của cô ấy. Nhất là chân của Akina yếu, không thích hợp đứng lâu. Lúc chụp ảnh cơ thể cô ấy cũng thường xuyên mệt mỏi, tôi thường massage cho cô ấy trong phòng chờ. Không phải khoe khoang đâu, nhưng tôi rất giỏi massage đấy. Hồi còn làm quản lý cho Momoi Kaori, tôi đã massage cho Momoi và anh Kuramoto So (người viết kịch bản) tại nơi sản xuất “Zenryaku Ofukuro-sama” (Nihon TV). Ngoài ra, Kiki Kirin cũng từng nhờ tôi.”

Tuy nhiên, với việc “Shojo A” và “Second Love” trở thành hit, các lời mời phỏng vấn và lên truyền hình cũng tăng đột biến. Hơn nữa, thời điểm cuối năm đến gần, thêm việc các “cuộc đua giải thưởng”, nên lịch trình lại càng gắt gao hơn.

“Tôi nhớ lúc đó là cuối năm rồi, nhưng trong lúc chụp ảnh bìa đĩa cho “1/2 no Shinwa” cô ấy lại cảm thấy mệt mỏi. Dù tôi là một người phụ trách quảng bá, tôi vẫn muốn giúp cô ấy tránh mất sức hơn”, ông nhớ lại.

“Đây có thể cũng là tính cách của Akina, đó là cô ấy không bao giờ than thở gì về công việc mình đã chấp nhận và quyết định. Những gì cô ấy phàn nàn về xung quanh, đa phần là do cách xử lý vấn đề trong công việc. Có lẽ rất vất vả để theo kịp Akina. Vì đó là cô bé có thể làm mọi thứ trước cả nhân viên. Nói chung cô ấy nghiêm khắc trong công việc và không xu nịnh ai. Là người lớn mà bị một cô bé 16, 17 tuổi chỉ dẫn, tôi nghĩ có một số nhân viên cảm thấy không thú vị gì đâu. Nhưng Akina vẫn kiên định. Tôi nghĩ có một bộ phận trong văn phòng cũng lúng túng không biết cư xử thế nào. Dù sao thì, trong các ca sĩ mới cùng thời, có những phần mà công ty thu âm có thể tương đối kiểm soát được. Nghĩ lại thì, Akina đặc biệt chú tâm đến cách thể hiện bản thân. Như mặc trang phục nào, chải kiểu tóc nào... để lên truyền hình. Ví dụ, kiểu tóc đuôi ngựa trong “Shojo A” cũng là do cô ấy đích thân đề nghị. Vì thế mà người quản lý có lẽ cũng chẳng sung sướng gì.”

Trong lúc đó, đã bước vào năm 1983, để hướng đến ngày phát hành 23/2, việc chuẩn bị quảng bá cho đĩa đơn thứ 4 “1/2 no Shinwa” tiếp sau “Second Love” đã chính thức bắt đầu. Tuy nhiên, một sự kiện bất ngờ đã xảy ra.

(phóng viên giải trí: Watanabe Yuuji)

______________________

■ Bình luận Yahoo JP


(+313 -29)
Vào thời đó, một cô ca sĩ solo mới tầm 20 tuổi đã nhận giải thưởng thu âm là chuyện kinh ngạc đến mức nào, lại còn 2 năm liên tiếp… Tôi đã chứng kiến đúng thực vào lúc đó nên rõ lắm. Có tất cả từ ngoại hình, giọng hát, đến thần thái, cá nhân tôi cho rằng đây là nữ ca sĩ mạnh nhất của thập niên 80.

(+197 -34)
Đúng như bài báo, sức biểu cảm của Akina rất xuất sắc, dần dà cũng bắt đầu tự produce. Thời đó cô ấy nhiều lần thể hiện cùng một bài hát trên tivi, nhưng tôi nhớ vũ đạo từng chút biến hóa nên người xem không thấy nhàm chán.

(+189 -24)
Tôi nhớ hồi xưa Akina cũng từng nói rằng cô ấy yếu và thường xuyên bị ngã.
Thần tượng thời đó nếu nổi tiếng thì rất bận rộn, đến mức chỉ ngủ tầm 2~3 tiếng, và không được nghỉ ngơi đàng hoàng… Họ cũng có tầm ảnh hưởng lớn trên thế giới.

Tôi nghĩ, Akina gia nhập giới giải trí vào thời đại như thế, chắc hẳn sẽ không làm nửa vời, và tính cách nghiêm túc đương nhiên cũng nâng cao ý thức chuyên nghiệp của cô ấy.

Tôi đã xem trên video rồi, trong Music Station Super Live (khoảng năm 1995), cô ấy nổi bật khi trình diễn lúc cơn sốt cao vẫn chưa hạ, vẫn hát và biểu diễn tuyệt vời như mọi khi.

(+149 -16)
Nakamori Akina là một ngôi sao đã vượt qua ranh giới của thần tượng!
Cô ấy đã xây dựng một thời đại bằng khả năng ca hát vượt trội và sức biểu cảm trời ban!
Quả thật đúng! Một diva huyền thoại!

(+123 -13)
Hồi “Kinku” với “Southern Wind”
Tóc đuôi ngựa cũng rất dễ thương.
Nakamori Akina là một ca sĩ có khả năng biểu cảm tuyệt vời, và hát nhập tâm vào nhân vật chính của ca khúc.
Có khi rơi lệ, có lúc nhảy nhót đẹp mắt, có lúc tỏa ra nỗi buồn chỉ với một vũ đạo nhẹ nhàng.
Thật sự là một ca sĩ tuyệt vời. 

“Huyền thoại một Diva: Dấu tích và Phép màu của Nakamori Akina” (Kỳ 40)

Dốc toàn lực vào doanh số bán hàng hơn là cuộc đua giải thưởng,
“1/2 no Shinwa” đối mặt những vấn đề nan giải

zakzak (15.09.2020)

Giải Người mới “Kagayaku! Japan Record Award lần 24” (TBS) năm 1982.

Năm ứng cử viên được chọn là Shibugakitai “100!... SO kamone!”, Ishikawa Hidemi “Yu-Re-Te Shonan”, Hayami Yu “Answer Song wa Aishuu”, Hori chiemi “Machibouke”, Matsumoto Iyo “Sentimental Journey”. Nakamori Akina và Koizumi Kyoko đều không được chọn (người chiến thắng giải Người mới xuất sắc nhất là Shibugakitai).

Ông Tomioka Nobuo (hiện là giám đốc đại diện momo&grapes company), người phụ trách quảng bá cho Akina tại bộ phận truyền thông âm nhạc Nhật Bản của Warner Pioneer (nay là Warner Music Japan) nhớ lại: “Đúng là chúng tôi cảm thấy tiếc về “Record Award”. Nhưng đó chẳng phải là cú sốc lớn như xung quanh tưởng. Cô ấy đứng hàng 6, 7 trong cuộc đua giành giải người mới, nhưng không cố tỏ ra mạnh mẽ. Mọi người đều biết về thành tích thực tế của Akina, nên tôi đã có suy nghĩ rằng “Không cần phải cố giành giải làm gì”. Không đến mức phải nói, nhưng bản thân Akina cũng không có vẻ để tâm đến việc mình không lọt vào danh sách đề cử, trước hết là, lúc này “Second Love” đang tiến triển cực tốt, nên ngược lại tôi nghĩ là sự hăng hái càng lớn hơn.”

Mặt khác, “Tất nhiên là có rất nhiều đối thủ, nhưng chúng tôi không còn cảm thấy nóng vội như hồi debut cách đây nửa năm nữa. Dù sao, chúng tôi nghĩ nên chuyên tâm vào việc tạo ra những tác phẩm tốt cho Akina. Đạt được kết quả trong cuộc đua giải thưởng cũng quan trọng, nhưng doanh số tăng cao thì Akina cũng được tăng phí quảng bá, nên chúng tôi đã tập trung toàn lực vào việc bán đĩa.”

Mặc dù bỏ lỡ giải Người mới của “Record Award”, nhưng “Second Love” đã đạt hạng 1 vào ngày phát sóng 16/12 trên chương trình “The Best Ten” cùng của đài TBS, “Cuối cùng, năm 1982 kết thúc với Akina, năm 1983 mở đầu với Akina. Từ khía cạnh này, tôi tự hào rằng mặc dù vẫn là người mới nhưng Akina đã trở thành một trong những ca sĩ đại diện cho năm 1982. Tất nhiên điều đó ngoài sức tưởng tượng của mọi người… tôi nghĩ đó là một kỳ tích.” (ông Tomioka)

Nhân tiện, tỉ suất người xem của “Japan Record Award” năm đó là 31.3% (theo Video Research, khu vực Kanto), thấp hơn 4 điểm so với năm trước.

Trong khi đó, vấn đề nan giải là single tiếp sau “Second Lone”.

Tuy nhiên, hướng đi của Akina hầu như đã được quyết định bởi Warner và văn phòng liên kết. Tomioka nói.

“Không cần phải nói, Akina không chỉ có khả năng ca hát mà còn có biểu cảm, nên phần còn lại là chọn hướng đi. Tóm lại, chỉ cần định hướng sai lầm thì chắc chắn không thể trở thành một ca sĩ tồn tại lâu dài được. Cấp trên của tôi cũng cùng suy nghĩ đó, nên tôi rất tự tin. Cái gọi là hướng nổi loạn và hướng trữ tình, nếu chỉ nghiêng về một bên thì sẽ đơn thuần trở thành một “ca sĩ dự án” mà thôi.”

Ông Terabayashi Akira (hiện là cố vấn kinh doanh của Avex label), tổng phụ trách quảng bá và sản xuất cho Akina tại Warner, cũng có suy nghĩ như vậy. Ông Terabayashi đặc biệt chú tâm tới việc “tạo sản phẩm có concept”. Nhìn vào mức độ yêu thích “Second Love” tiếp sau “Shojo A”, ông càng vững tin vào hướng đi sau này của Akina. Ông Terabayashi nhìn lại.

“Thời điểm đó, anh Urino Masao vẫn còn là tác giả mới, nhưng đã viết được những lời có gu thẩm mỹ và phù hợp với Akina. Điều đó cũng giống với bộ đôi Kisugi Etsuko và Kisugi Takao, nên tôi tự hỏi bằng những phong cách này, liệu mỗi người trong số họ có thể hoán đổi nhau như là “tác phẩm bộ 3” không. Nếu có thể xen kẽ 2 phong cách tác phẩm với nhau, thì chắc hẳn sẽ nhanh chóng giúp năng lực giọng hát của Akina được chú ý hơn.”

Và thế là “1/2 no Shinwa” do Urino viết lời đã được ra đời.

(Phóng viên giải trí: Watanabe Yuuji)

“Huyền thoại một Diva: Dấu tích và Phép màu của Nakamori Akina” (Kỳ 39)

“Kế vị Momoe” “Tình hình cuộc đua giải thưởng”,
Ý nghĩa sự hiện diện của Nakamori Akina tăng lên và thay đổi xu hướng chung

zakzak (08.09.2020)

Thời điểm cuối năm 1982 đang đến gần, “cuộc đua giải thưởng tân binh” bước vào giai đoạn cao trào.

Mặc dù Nakamori Akina ít được biết đến vào thời điểm ra mắt, nhưng doanh thu lâu dài của single thứ hai “Shojo A”, và sau đó single thứ ba “Second Love” thành hit lớn, đã khiến độ nổi tiếng và hiện diện tăng vọt, trong ngành thậm chí đã gọi cô là “tân binh đại diện cho năm 1982”.

“Sau khi Yamaguchi Momoe đột ngột nghỉ hưu vào năm 1980, “người kế vị Momoe” trở thành chủ đề lớn trong ngành. Trong số đó, ứng cử viên sáng giá nhất là Matsuda Seiko, ra mắt vào tháng 4/1980 với câu catchphrase “Dakishimetai! Miss Sony”, nhưng cùng với sự hiện diện tăng cao của Akina, chiều hướng cũng bắt đầu thay đổi, nếu mà nói thẳng ra thì, đã có ý kiến cho rằng Akina hợp với hình ảnh người kế thừa Momoe hơn. Phần lớn là nhờ ở những tác phẩm của Akina.” (người liên quan trong giới âm nhạc)

Dù vậy, “cuộc đua giải thưởng” không chỉ được quyết định bởi mức độ ủng hộ cao của người hâm mộ.

“Giải thưởng không phải thứ bạn được cho, mà là thứ bạn phải giành lấy”.

Có một bầu không khí trong ngành như vậy. Người liên quan trong ngành âm nhạc nói trên kể lại.

“Ban đầu phía Akina hoàn toàn không có ý nhắm đến giải thưởng Người mới xuất sắc. “Cuộc đua giải thưởng” là điều quan trọng để chứng tỏ sự hiện diện với công chúng. Đặc biệt là đối với những người mới. Đầu tiên là phải lọt được vào danh sách đề cử. Akina không hứng thú với các cuộc đua giải thưởng như xung quanh vẫn nghĩ. Thay vào đó, có thể cô ấy nghĩ rằng sẽ tận dụng việc tham gia cuộc đua tranh giải để may và mặc quần áo đẹp. Từ khi ra mắt Akina đã đặc biệt để tâm về trang phục rồi.”

Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng “Chiều hướng của các “cuộc đua giải thưởng” đã thay đổi lớn” do Akina đã bắt kịp.

“Ví dụ, Akina đã đoạt “giải người mới xuất sắc” tại “Lễ hội âm nhạc Yokohama” do Radio Nihon (lúc đó là Radio Kanto) chủ trì, một chương trình được gọi là “Vũ môn” của người mới. Ngoài ra, cô cũng đoạt giải Người mới của năm tại “Japan Cable Radio Awards””. (giám đốc điều hành một công ty sản xuất lớn).

Điều gây ngạc nhiên nhất trong ngành chính là giải thưởng âm nhạc “JFN Listeakers Grand Prix” (kể từ năm 1993 gọi là “JFN Listeakers Award”) của FM Tokyo, được tổ chức tại Nakano Sun Plaza ở Tokyo vào ngày 25/12. Giải này được gọi là giải âm nhạc của “thời đại hoàng kim của đài phát thanh”, do cửa hàng băng đĩa lớn “Shinseido” đứng đằng sau lựa chọn theo số phiếu của khán giả, nên “có thể nói đó là thước đo độ nổi tiếng của năm đó”. (người liên quan công ty thu âm)

Và Akina đã giành được giải Grand Prix tại giải thưởng âm nhạc này.

“Số phiếu bình chọn của Akina thắng áp đảo. Quả thật Akina có được ủng hộ đông đảo của khán giả. Nhìn lại thì, tôi nghĩ rằng có lẽ từ trường hợp của Akina mà người nghe bắt đầu khó hiểu với cách nhìn nhận và hứng thú của ngành.” (giám đốc điều hành nhà sản xuất lớn nói trên)

Trong lúc đang quay cuồng với “Tổng quyết toán năm 1982” mang tên “cuộc đua giải thưởng”, thì ông Tomioka Nobuo (hiện là giám đốc đại diện của momo&grapes company), người phụ trách quảng bá cho Akina tại bộ phận quảng bá âm nhạc Nhật Bản tại Warner Pioneer (nay là Warner Music Japan), lại bận rộn lên kế hoạch cho bộ lịch năm 1984.

“Việc sản xuất lịch phải khởi động trước hơn một năm, nếu không sẽ không kịp. Thời đó việc bán lịch cũng là một phần của sự nổi tiếng, nên chúng tôi phải chú trọng về nội dung. Về cơ bản, chúng tôi đã xem xét mời các nhiếp ảnh gia cho bìa đĩa và poster của Akina, năm đầu là anh Nomura Seiichi, năm thứ 2 là anh Watanabe Tatsuo, và năm thứ 3 là anh Miura Kenji đã chụp cho YMO. Vì anh Miura của năm thứ 3 gặp một số vấn đề, nên chúng tôi đã thay thế bằng anh Shimizu Seitaro. Do anh Nomura “tĩnh” về mặt hình ảnh, nên chúng tôi nghĩ rằng anh Watanabe có thể biểu hiện mặt “động” của Akina, và đề xuất sẽ thể hiện phần “động” trong bộ lịch.”

Từ “tĩnh” sang “động”... Có thể sẽ biểu hiện được cảm giác sống động của Akina.

(Phóng viên giải trí: Watanabe Yuuji)

“Huyền thoại một Diva: Dấu tích và Phép màu của Nakamori Akina” (Kỳ 38)

Sự cố “Ném trứng sống” khởi đầu cho mối quan hệ tốt đẹp với Kyon Kyon

zakzak (01.09.2020)

Cuộc chiến “Đường đua giải thưởng âm nhạc” năm 1982 khốc liệt hơn bao giờ hết. Một người liên quan trong lĩnh vực âm nhạc nhớ lại.

“Dẫn đầu là Shibugakitai. Matsumoto Iyo, Hayami Yu, Hori Chiemi và Ishikawa Hidemi cũng tham gia tranh tài, đó là thời điểm cuộc đua giành giải người mới trở nên sôi động nhất. Nhưng cuộc đua giải thưởng không phải chỉ cần doanh số là đủ, nên Nakamori Akina dù thế nào vẫn gặp bất lợi, nhưng có cảm giác Koizumi Kyoko cũng đi sau một bước. Koizumi và Akina đều ở nhóm năm 1982 nhưng họ có phần khác biệt. Có lẽ bố cục tổng thể rõ ràng là điểm đặc biệt của cuộc đua giải người mới năm đó.”

Trong lúc đó, xảy ra một sự kiện mà giờ đây đã trở thành “huyền thoại” trong ngành. Đó là “Lễ hội âm nhạc Shinjuku” do Bunka hosho chủ trì, nơi Akina nhận “Giải khuyến khích đặc biệt của ban giám khảo chuyên môn”.

“Tại lễ hội âm nhạc, Koizumi đã giành được “giải Vàng”, khi các thí sinh đứng xếp hàng trên sân khấu trong màn cuối, một quả trứng sống bay lên từ hàng ghế khán giả và trúng đầu Koizumi. Akina nhận thấy tình hình đó, liền chạy vội tới chỗ Koizumi, bảo vệ và đưa cô ấy đến khu vực cánh gà. Sự việc diễn ra trong tích tắc.” (người liên quan công ty sản xuất)

Sự việc bất ngờ đã gây náo động cả hội trường. Việc ném “trứng sống” ở nơi đang diễn ra cuộc đua giải thưởng là điều xưa nay chưa từng có.

“Tôi không rõ liệu đó có phải nhằm vào Koizumi không. Cũng có thể nó tình cờ trúng Koizumi thôi. Nhưng tôi nghe nói người ném là fan nam cuồng nhiệt của một ứng cử viên sáng giá cho giải Vàng. Cũng có thông tin rằng, nghe nói có một số fan đã tức giận vì Koizumi chưa từng được chọn trong các cuộc đua giải thưởng cho người mới, vậy mà bây giờ lại giành giải Vàng… Tóm lại có lẽ là lòng đố kỵ của người hâm mộ. Tất nhiên chúng ta không biết được chân tướng sự việc, nhưng ngay cả thế, hành động tức thời của Akina đã trở thành chủ đề lớn. Lúc đó đang thi chính thức mà. Vốn dĩ đó là việc của staff nên làm. Nói chung, cô ấy rất xuất sắc trong việc xử lý khủng hoảng, cũng có thể nói là có tố chất ứng phó mọi việc trong tích tắc. Thật khác biệt với hành động của một thần tượng nhỉ.” (người liên quan công ty sản xuất nói trên)

Tình huống này sau đó được Koizumi và Akina kể lại cho người dẫn chương trình Kuroyanagi Tetsuko và Konishi Hiroyuki trong “The Best Ten” của TBS (tháng 5/1989).

Khi Kuroyanagi hỏi “Tôi nghe nói mối quan hệ của cả hai trở nên đặc biệt tốt vì chuyện gì đó phải không? Khi Kyon Kyon bắt gặp những ánh mắt kinh khủng…”, điều đầu tiên Koizumi nói là “Tại một giải thưởng dành cho người mới sau khi ra mắt, cháu đã bị ném trứng khi đứng trên sân khấu, chuyện cũng lâu rồi ạ…”.

Cô ấy tiếp tục kể về tình huống lúc đó, “(Cháu bị ném trứng sống) khá là bẩn, Akina đang đứng xếp hàng ở chỗ xa, dù cô ấy vẫn là người mới, nhưng đã mặc kệ tivi đang quay hình mà ngay lập tức chạy đến, và dẫn cháu ra phía cánh gà”.

Akina giải thích, “Lúc đó người ta ném đồ như phát sốt lên vậy, kiểu như, a--, lại bay tới nữa, nên cháu đã tránh khá nhiều. Có nhiều thứ bay lên lắm, như là đồng tiền 10 yên… cháu đã tránh nó.”

Ngoài ra, “Cháu chỉ thấy cái gì đó trắng trắng bay lên, đang nghĩ sẽ trúng ai thì nó đáp ngay Kyoko, thật kinh khủng. Ban đầu cháu nghĩ chắc người bên cạnh sẽ giúp cô ấy, nhưng chẳng thấy ai xử lý cả, nên cháu nghĩ hay là tới dẫn cô ấy đi. Vậy là, cháu đã chạy nhanh lại và đưa cô ấy ra rìa sân khấu.”

Đây có lẽ cũng là ý thức công bằng của Akina. Koizumi cũng nói về Akina rằng, “Một người thật sự dịu dàng, giống như chị gái vậy, tôi đã không nghĩ rằng lại có người dịu dàng đến thế.”

28 năm đã trôi qua. Koizumi đã mô tả Akina như là một người “bạn đồng chí”. Nhưng trên thực tế, biến cố xảy ra ngày hôm đó có thể đã khiến mối quan hệ giữa hai người càng thêm sâu đậm.

(Phóng viên giải trí: Watanabe Yuuji)

“Huyền thoại một Diva: Dấu tích và Phép màu của Nakamori Akina” (Kỳ 37)

Thành tích tiêu thụ single có thể sánh với Fuji Keiko…
Vẫn đứng hàng 6, 7 trên đường đua giải thưởng

zakzak (25.08.2020)

Single thứ ba “Second Love” tiếp sau “Shojo A” đã thành công rực rỡ.

“Tôi chỉ có thể nói rằng, chúng tôi đã thành công đạt được mục tiêu. Thực ra chúng tôi đã chia làm hai phe trong lựa chọn phong cách, và đến phút cuối mới quyết định. Nhưng dù chọn hướng nào, thì năng lực ca hát của Akina là tuyệt đối, nên thật tốt vì chúng tôi đã ưu tiên bài hát. Theo nghĩa đó, việc công nhận tác phẩm cũng gắn liền với tính nghệ thuật của Akina.”

Ông Tomioka Nobuo, người phụ trách quảng bá cho Akina tại bộ phận quảng bá âm nhạc Nhật Bản của Warner Pioneer (nay là Warner Music Japan), nhớ lại.

“Bây giờ nghĩ lại, công ty chúng tôi yếu kém trong ngành, và Akina là kinh nghiệm mảng âm nhạc đầu tiên của văn phòng, nên thật tốt vì chúng tôi được giao phó toàn bộ về mặt sản xuất âm nhạc. Tôi nhớ là sếp của tôi cũng nêu ý kiến với văn phòng, và văn phòng chẳng nói gì về tác phẩm cả. Công việc của chúng tôi là bán đĩa, nhưng chỉ trả tiền quảng cáo mà không thể nói gì về tác phẩm nên cảm thấy cô đơn. Đó là một thời đại tốt đẹp, hay có thể nói là, một thời đại đã sinh ra Akina.”

“Shojo A” đứng thứ 12 trên bảng xếp hạng Oricon ngày 22/11/1982, ngoài top 10, nhưng lại được vào top của chương trình âm nhạc nổi tiếng “The Best Ten” cho đến ngày phát sóng 25/11. Mặt khác, “Second Love” phát hành ngày 10/11 đã đạt vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng ngày 22/11. Không cần phải nói, những chuyển đổi ngoạn mục này đã trở thành đề tài nóng trong ngành.

Một người liên quan trong giới âm nhạc đã giải thích về thành tích đó, “Nhìn vào dữ liệu của Oricon, có thể thấy rằng những xếp hạng của Akina rất giống với Fuji Keiko, là mẹ của Utada Hikaru.”

“Fuji ra mắt lần đầu với “Shinjuku no Onna” vào năm 1969, sau đó ra mắt single thứ 2 “Onna no Blue” và nổi tiếng với hit lớn “Keiko No Yume Yoru Hiraku” vào năm 1970. “Onna no Blue” sau khi phát hành đã giành vị trí số 1 trong tám tuần liên tiếp, sau đó, “Yoru Hiraku” thay vào vị trí số 1, dẫn đến việc Fuji độc chiếm vị trí 1 và 2 trong 2 tuần. Tuy thứ hạng có khác, nhưng Akina cũng đã tạo ra một sự hoán vị tuyệt vời. Về bối cảnh thời đại thì Fuji hát nhạc Enka, nhưng Akina đã đạt được thành tích với tư cách thần tượng.”

Fuji Keiko thực sự là ca sĩ tiêu biểu cho thập niên 1970, đã 12 năm kể từ đó…

“Dựa trên số liệu, có thể nói ca sĩ đại diện cho năm 1982 là Nakamori Akina. Hơn nữa, cũng giống như Fuji hồi đó, cô ấy là ca sĩ mới.” (người liên quan trong ngành âm nhạc nói trên)

Trong lúc doanh số single thu được nhiều chú ý, Tomioka nỗ lực cho “Cuộc đua Giải người mới” năm đó, đồng thời cũng chịu trách nhiệm sản xuất bộ lịch năm sau, nên công việc rất bận rộn.

“Bản thân Akina đã theo dõi tình hình từ khi ra mắt theo cách của mình, vì vậy tôi nghĩ cô ấy cũng không quan tâm đến các cuộc đua giải thưởng như công chúng đồn đại. Chỉ là vì tình hình của single rất thuận lợi, phản ứng xung quanh cũng nồng nhiệt, nên chúng tôi đương nhiên nhắm tới giải Người mới xuất sắc. Tại “Lễ hội âm nhạc Shinjuku” (do Bunka hosho chủ trì), Akina không mong đoạt giải, nhưng khi nhận được “Giải khuyến khích đặc biệt của ban giám khảo chuyên môn” Akina thật sự rất vui. Khi được xướng tên cô ấy đã rất bất ngờ. Việc được công nhận như một nghệ sĩ quả thật khiến cô ấy vui hơn bất kỳ giải thưởng nào. Nhìn vẻ mặt hạnh phúc của cô ấy lúc đó, dù chỉ một chút khả năng chúng tôi cũng muốn cô ấy sẽ giành được vị trí người mới hàng đầu.”

Akina, người có doanh số single đứng đầu của năm đó, vẫn đứng hàng 6, 7 trong cuộc đua giải thưởng.

(Phóng viên giải trí: Watanabe Yuuji)

“Huyền thoại một Diva: Dấu tích và Phép màu của Nakamori Akina” (Kỳ 36)

Năng lực và khả năng ca hát nổi trội trong nhóm năm 1982!
Trình diễn trong chương trình có ảnh hưởng lớn “The Best Ten”,
Nửa năm sau khi ra mắt, “thời đại Akina” đã mở màn

zakzak (18.08.2020)

Trong số các thần tượng thập niên 1980, nhóm “Hana no 82-nen gumi” được debut vào năm 1982 có độ nổi tiếng lâu dài, nhưng thời đó vị trí của Nakamori Akina chỉ ở hàng 6, 7 trong số những người mới. “Tôi nghĩ toàn bộ trong ngành đều xem cô ấy như một “vai phụ””, một người có liên quan từ nhà sản xuất nhớ lại.

Tuy nhiên, single “Shojo A” khởi đầu với vị trí 40 trên bảng xếp hạng Oricon, sau 11 tuần đã vươn lên vị trí thứ 5. Album thứ hai “Variation (Hensoukyoku)” đạt thành tích hạng 1 trong lần xuất hiện đầu tiên. Trước khi nhận ra thì cô ấy đã đứng đầu “nhóm năm 1982”.

Thậm chí, những người liên quan trong âm nhạc chưa từng để tâm đến Akina cũng nhận xét “Một thần tượng lớn xứng đáng với hai chữ “kỳ tích””.

“Ngoài khả năng ca hát, năng lực hóa thân thành nhân vật chính của bài hát cũng vượt trội so với những thần tượng khác.”

Ông Tomioka Nobuo, người phụ trách quảng bá cho Akina tại bộ phận quảng bá âm nhạc Nhật Bản của Warner Pioneer (hiện là Warner Music Japan), cho biết.

“Những ca sĩ không thể nổi tiếng, thì cho dù có chi 100 triệu yên để quảng bá vẫn sẽ không nổi tiếng. Nhưng Akina đã phát huy năng lực vượt xa chi phí quảng bá 100 triệu yên. Có thể nói là một thần tượng được sinh ra từ thời đại.”

Vào thời điểm đó, chu kỳ phát hành single của thần tượng là 3 tháng. Nhưng Akina đã phát hành album vào ngày 27/10, vừa đúng 3 tháng sau khi phát hành “Shojo A”. Điều này rốt cục đã đạt thành công.

Ngoài ra, các chương trình xếp hạng như “The Best Ten” (TBS) và “The Top Ten” (Nihon TV)... đã thúc đẩy sự nổi tiếng của Akina.

“Mặc dù Akina hầu như không trình diễn trong chương trình âm nhạc vào thời điểm debut, nhưng các chương trình xếp hạng là dựa trên doanh số bán hàng. Trường hợp của Akina, quả thật các chiến dịch địa phương đều đặn đã đặt nền móng cho sự nổi tiếng. Trước và sau khi phát hành “Shojo A”, tôi đã tạm thời không được giao công việc phụ trách, nhưng tôi vẫn cảm nhận trực tiếp phản ứng từ các cửa hàng băng đĩa. Sau đó khi tôi quay lại công việc phụ trách vào tháng 9, trong công ty đang hỗn loạn vì ứ đọng đơn hàng single. Kết quả là đã đạt hạng 9 trong lần đầu có mặt trên “The Best Ten”, và vọt lên hạng 3 sau khi album được phát hành một ngày. Không có sự quảng bá cho album nào tốt hơn thế. Nhờ đó album đã giành vị trí thứ 1 trong lần đầu có mặt trên bảng xếp hạng Oricon với doanh số vượt qua 700.000 bản. Trong mơ tôi cũng chưa từng nghĩ rằng, chỉ vỏn vẹn nửa năm mà Akina có thể phát triển đến mức này.”

Ông Tomioka lật giở từng trang của cuốn sổ tay viết về tình hình lúc đó và kể lại.

Single thứ ba “Second Love” phát hành vào ngày 10/11, hai tuần sau khi phát hành album. Nhưng ngay cả khi đã ra mắt ca khúc mới, “Shojo A” vẫn liên tục giành được những thắng lợi lớn. Đứng thứ 6 trong “The Best Ten” phát sóng ngày 11/11, và tiếp tục có mặt trong top cho đến ngày phát sóng 25/11.

Mặt khác, “Second Love” đã đứng vị trí thứ 2 trong bảng xếp hạng Oricon ngày 22/11, và cuối cùng vươn lên vị trí số 1 vào tuần sau đó. Quả tương xứng với chữ “thành tích rực rỡ”.

“Dù có nhiều vấn đề rắc rối khi lựa chọn ca khúc cho single thứ hai, nhưng quả thật để ưu tiên âm nhạc và quay về nguyên bản, thì tôi cho rằng “Second Love” là lựa chọn đúng đắn. Tất nhiên nếu chọn “Cancel” có cùng phong cách với “Shojo A” để làm single thì cũng vẫn bán chạy thôi. Nhưng con đường sau này có lẽ sẽ theo phong cách nổi loạn... khác hẳn hướng đi dự kiến ban đầu. Bản thân Akina cũng biết điều đó”, ông Tomioka nói.

Nhân tiện, trong “The Best Ten” phát sóng ngày 2/12, “Second Love” đã lọt vào top 10, đứng vị trí thứ 6 và thay thế “Shojo A”, hơn nữa còn giành được vị trí thứ 1 vào ngày phát sóng 16/12. Kết quả là “The Best Ten” năm 1982 đã hạ màn với Akina, và “The Best Ten” năm 1983 cũng mở màn với Akina, mở ra một “thời đại Akina” cả về tên gọi lẫn thực tế.

(phóng viên giải trí: Watanabe Yuuji)